GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ INDIA
Ấn Độ tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ ( đã dược Latinh hoá: Republic of India – bắt nguồn từ Indus, một từ tiếng Ba Tư cổ là Hinduš – Hindustan có nguồn gốc từ một từ trong tiếng Ba Tư có nghĩa là ” Vùng đất của người Hindu ” ), một quốc gia nằm ở khu vực Nam Á. Ấn Độ là quốc gia lớn thứ 7 về diện tích và đông dân nhất trên thế giới.
Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam, Ấn Độ có đường biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal và Bhutan ở phía Đông – Bắc và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông.
Ấn Độ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, giành được độc lập vào năm 1947, nhưng bị phân chia thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pakistan.
Địa lý Ấn Độ
Ấn Độ bao trùm phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ và nằm trên đỉnh của mảng kiến tạo Ấn Độ- một phần của mảng Ấn-Úc. Các quá trình địa chất học xác định được của Ấn Độ bắt đầu từ 75 triệu năm trước. Dãy núi Himalaya hiện tiếp giáp với Ấn Độ ở phía Bắc và Đông-Bắc.Tại đáy biển cũ nằm ngay phía nam dãy Himalaya. Các sông lớn bắt nguồn từ dãy Himalaya về căn bản chảy qua sông Hằng và Brahmaputra Ấn Độ, cả hai đều đổ vào vịnh Bengal. Do đó, Khí hậu Ấn Độ chịu ảnh hưởng mạnh từ dãy Himalaya và hoang mạc Thar.
Ấn Độ có đường bờ biển dài 7.517 kilômét (4.700 mi); trong đó, 5.423 kilômét (3.400 mi) thuộc Ấn Độ bán đảo và 2.094 kilômét (1.300 mi) thuộc các dãy đảo Andaman, Nicobar, và Lakshadweep.
Ấn Độ có hai quần đảo lớn: Lakshadweep, gồm các đảo san hô vòng ở ngoài khơi bờ biển tây-nam Ấn Độ; còn Quần đảo Andaman và Nicobar là một dãy núi lửa trên biển Andaman.
Môi trường sinh học đa dạng
Ấn Độ – vùng sinh thái Indomalaya đa dạng sinh học. Ấn Độ là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh vật siêu cấp, có 8,6% tổng số loài thú, 13,7% tổng số loài chim, 7,9% tổng số loài bò sát, 6% tổng số loài lưỡng cư, 12,2% tổng số loài cá, và 6,0% tổng số loài thực vật có hoa. Cây đề xuất hiện trên các ấn ở di chỉ Mohenjo-daro, Đức Phật giác ngộ dưới gốc của loài cây này.
Ấn Độ có hơn 500 khu bảo tồn loài hoang dã và 13 khu dự trữ sinh quyển, bốn trong số đó là một phần của Hệ thống khu dự trữ sinh quyển thế giới; 25 khu đất ngập nước được đăng ký nằm dưới Công ước Ramsar.
Phân cấp hành chính
Liên bang Ấn Độ gồm 28 bang và 8 lãnh thổ liên bang : Andhra Pradesh,Arunachal Pradesh, Assam, Bihar, Chhattisgarh, Goa, Gujarat, Haryana, Himachal Pradesh, Jharkhand, Karnataka, Kerala, Madhya Pradesh, Maharashtra, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland, Odisha, Punjab, Rajasthan, Sikkim, Tamil Nadu, Telangana, Tripura, Uttar Pradesh, Uttarakhand, Tây Bengal
Lãnh thổ liên bang: Quần đảo Andaman và Nicobar, Chandigarh
Dadra và Nagar Haveli và Daman và Diu, Jammu và Kashmir, Ladakh
Lakshadweep, Lãnh thổ thủ đô quốc gia Delhi, Puducherry
Ngoại giao
Kể từ khi độc lập vào năm 1947, Ấn Độ duy trì các quan hệ thân mật với hầu hết các quốc gia. Trong thập niên 1950, Ấn Độ ủng hộ mạnh mẽ quá trình phi thực dân hóa tại châu Phi và châu Á, đóng một vai trò lãnh đạo trong Phong trào Không liên kết.
Ấn Độ có các mối quan hệ căng thẳng với Pakistan; Sau khi tiến hành chiến tranh với Trung Quốc vào năm 1962 và với Pakistan vào năm 1965,
Ngoài việc tiếp tục mối quan hệ chiến lược với Nga – Liên Xô cũ, Ấn Độ có quan hệ quân sự ở phạm vi rộng với Israel và Pháp.
Kinh tế Ấn Độ
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2017 Ấn Độ đứng thứ 3 châu Á sau Trung Quốc và Nhật Bản) và có GDP theo sức mua tương đương là 9.446 tỷ đô la Mỹ. Ấn Độ được đánh giá là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.
Nhân khẩu
Với dân số 1,411 tỷ người theo điều tra năm 2023, Ấn Độ là quốc gia đông dân nhất trên thế giới. Tiến bộ về y tế trong suốt 50 năm khiến dân số Ấn Độ gia tăng nhanh chóng. Hiến pháp công nhận 212 nhóm bộ lạc xác định, họ chiếm tỷ lệ 7,5% trong dân số quốc gia.
Ngôn ngữ
Ấn Độ là nơi có hai nhóm ngôn ngữ lớn: Ấn-Arya (74% cư dân nói) và Dravidia (24%). Ấn Độ không có ngôn ngữ quốc gia. Tiếng Hindi có số lượng người nói lớn nhất và là ngôn ngữ chính thức của chính phủ. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và hành chính và có địa vị “ngôn ngữ phó chính thức”.
Tôn giáo tại Ấn Độ (2011)
Hindu (79,8%) , Hồi giáo (14,2%) , Kitô giáo (2,30%), Sikh giáo (1,72%), Phật giáo (0,70%), Kỳ Na giáo (0,36%), Khác (0,90%)
Văn hóa Ấn Độ
Lịch sử văn hóa Ấn Độ kéo dài hơn 4.500 năm. Trong thời kỳ Vệ Đà (k. 1700 – 500 TCN), các nền tảng của triết học, thần thoại, văn học Ấn Độ giáo được hình thành, ngoài ra còn có sự hình thành của nhiều đức tin và thực hành vẫn tồn tại cho đến nay, chẳng hạn như Dharma, Karma, yoga, và moksha. Du lịch tới Ấn Độ , du khách sẽ được trải nghiệm về sự đa dạng về mặt tôn giáo, trong đó Ấn Độ giáo, Sikh giáo, Hồi giáo, Kitô giáo và Jaina. Ấn Độ giáo là tôn giáo chiếm ưu th, mang tính lịch sử về tư tưởng, bao gồm các tư tưởng trong Áo nghĩa thư, kinh Yoga, phong trào Bhakti, và từ triết học Phật giáo.
Nghệ thuật và kiến trúc
Kiến trúc đền Ấn Độ giáo, nó chịu ảnh hưởng từ Shilpa Shastras, một loạt các văn bản mang tính nền tảng có hình dạng thần thoại học cơ bản là Vastu-Purusha mandala- một hình vuông là hiện thân của “tuyệt đối”. Taj Mahal được xây dựng theo lệnh của Hoàng đế Shah Jahan để tưởng nhớ hoàng hậu của ông, được liệt vào danh sách di sản thế giới của UNESCO với miêu tả “viên ngọc quý của nghệ thuật Hồi giáo tại Ấn Độ và một trong những kiệt tác được khắp nơi ca tụng thuộc về di sản thế giới.”
Văn học
Các tác phẩm văn học từ 1400 TCN đến 1200 TCN được viết bằng tiếng Phạn. Thế kỷ XX, văn học Ấn Độ chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của thi nhân và tiểu thuyết gia Rabindranath Tagore.
Nghệ thuật biểu diễn
Âm nhạc Ấn Độ có các trường phái Hindustan ở bắc bộ và Carnatic ở nam bộ. Khiêu vũ Ấn Độ cũng có các loại hình dân gian và cổ điển đa dạng: Bhangra của Punjab, Bihu của Assam, Chhau của Tây Bengal và Jharkhand, Garba và Dandiya của Gujarat, Sambalpuri của Odisha, Ghoomar của Rajasthan, và Lavani của Maharashtra.
Xã hội
Xã hội truyền thống Ấn Độ được xác định theo đẳng cấp xã hội, hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ là hiện thân của nhiều xếp tầng xã hội và nhiều hạn chế xã hội tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ. Hôn nhân được cho là gắn liền với sinh mệnh, và tỷ lệ ly hôn rất thấp. Tảo hôn tại Ấn Độ là việc phổ biến, đặc biệt là tại các vùng nông thôn.
Ấn Độ có nhiều lễ hội văn hóa có nguồn gốc tôn giáo, trong đó có Chhath, Phật đản, Giáng sinh, Diwali, Durga Puja, Bakr-Id, Eid ul-Fitr, Ganesh Chaturthi, Holi, Makar Sankranti hay Uttarayan, Navratri, Thai Pongal, và Vaisakhi cùng ba ngày lễ quốc gia.
Trang phục
Y phục phổ biến gồm sari cho nữ giới và dhoti hay lungi cho nam giới. Văn hóa đeo đồ kim hoàn làm theo hình hoa thật thời Ấn Độ cổ đại, là truyền thống từ khoảng 5.000 năm; người Ấn Độ cũng đeo đá quý như một thứ bùa.